Vấn đề không nằm ở nhiệt độ thấp mà ở sự chuyển đổi từ trạng thái lạnh sang áp suất vận hành. Hỗn hợp NBR ở −20°C có độ cứng Shore cao hơn khoảng 15–18 điểm so với giá trị định mức của nó ở 20°C. Khi máy khoan bắt đầu hoạt động va đập ở áp suất đầy tải trước khi dầu đạt đến nhiệt độ làm việc, mép phớt đã trở nên cứng hơn sẽ không thể bám sát vào vi cấu trúc bề mặt lỗ khoan. Trong 200–400 chu kỳ va đập đầu tiên — tương đương khoảng 5 giây khoan — các vết nứt vi mô hình thành trên mép phớt, những vết nứt này không thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng lại tạo ra các đường lan truyền nứt dẫn đến hỏng hóc sau 80–120 giờ.
Các hoạt động khai thác mỏ ngầm tại vùng Lapland của Phần Lan đã phát hiện ra mô hình này tại mỏ vàng Kittilä, nơi nhiệt độ cổng vào vào mùa đông đạt −30°C. Các kỹ sư bảo trì của Agnico Eagle nhận thấy rằng những máy khoan đục lỗ (drifter) khởi động mà không thực hiện chế độ chạy không tải làm ấm trong 10–15 phút ở áp suất giảm đã làm hỏng các phớt nhanh hơn 35% so với các máy giống hệt nhau cùng hoạt động trên mạch điện đó nhưng tuân thủ quy trình chạy không tải làm ấm. Chi phí cho 12 phút chạy không tải so với chi phí thay thế một bộ phớt hoàn chỉnh là điều không cần bàn cãi. Phớt làm từ polyurethane (PU) có độ cứng Shore 95 chịu được tình trạng khởi động lạnh tốt hơn phớt cao su nitrile butadiene (NBR) khoảng 40% trong điều kiện dưới 0°C, tuy nhiên việc chạy không tải làm ấm vẫn bắt buộc bất kể loại vật liệu chế tạo phớt.
Giao thức Bảo vệ Phớt khi Khởi động Lạnh theo Nhiệt độ
|
Nhiệt độ môi trường |
Thời gian Chạy Không Tải Làm Ấm |
Áp suất Đập Khi Khởi động |
Mức Độ Nguy Cơ Hư Hỏng Phớt nếu Không Tuân Thủ Giao thức |
|
0°C đến −10°C (trên điểm đóng băng trong môi trường mỏ ngầm) |
5 phút ở 30–40% áp suất đập |
Tăng dần từ 60 bar lên mức tối đa trong vòng 3 phút |
Độ cứng Shore cao hơn giá trị danh định 5–8 điểm — nguy cơ rách vi mô ở mép phớt |
|
−10°C đến −20°C (các khu vực cổng vào lạnh) |
10 phút ở áp suất 25–35% |
Chỉ tăng lên áp suất tối đa sau khi nhiệt độ trở về đạt 45°C |
Tỷ lệ hỏng gioăng cao hơn 20–25% so với máy khởi động nóng |
|
−20°C đến −30°C (khởi động ngoài trời/bề mặt ở Lapland) |
15 phút ở áp suất 20–30% với động cơ chạy không tải |
Không vượt quá 80 bar trong 8 phút đầu tiên |
Tỷ lệ hỏng gioăng cao hơn 35–40% — nứt môi gioăng trong lần đẩy toàn hành trình đầu tiên |
|
Dưới −30°C (khởi động ngoài trời ở Siberia) |
Chạy không tải 20–25 phút, làm nóng dầu trước nếu có sẵn |
Sử dụng chất lỏng gốc PAO độ nhớt VG 46 hoặc VG 32 — chất lỏng khoáng VG 46 quá đặc |
Nguy cơ nứt môi búa nghiêm trọng có thể xảy ra ngay trong chu kỳ đục đầu tiên |
|
Bất kỳ nhiệt độ nào, khoan để không tải qua đêm |
Chế độ chạy không tải làm nóng tiêu chuẩn trong 5 phút, bất kể nhiệt độ ngoài trời |
Áp suất thủy lực tăng lên đến nhiệt độ vận hành trước khi thực hiện đục |
Ngưng tụ bên trong do làm mát qua đêm gây ăn mòn vật liệu NBR |
Chế độ chạy không tải làm nóng trong 12 phút không phải là thời gian ngừng hoạt động — mà là biện pháp bảo hiểm. Vòng đệm đục bằng PU độ cứng Shore 95 có giá khoảng 4–6% giá trị thân xi-lanh mà nó bảo vệ; hiện tượng rách vi mô do khởi động lạnh dẫn đến hỏng hóc sớm sau 80 giờ vận hành sẽ làm phá vỡ tỷ lệ này. HOVOO cung cấp bộ kit vòng đệm khí hậu lạnh bằng PU độ cứng Shore 95 cho các máy khoan di chuyển RD18U, RD22U và HLX5T hoạt động trong điều kiện nhiệt độ dưới 0°C. Tham khảo đầy đủ tại hovooseal.com.
EN
AR
CS
DA
NL
FI
FR
DE
EL
IT
JA
KO
NO
PL
PT
RO
RU
ES
SV
TL
IW
ID
LV
SR
SK
VI
HU
MT
TH
TR
FA
MS
GA
CY
IS
KA
UR
LA
TA
MY