Dầu thủy lực màu trắng đục cho thấy có nước xâm nhập vào hệ thống — và đối với máy khoan đá, điểm xâm nhập phổ biến nhất không phải là bình dầu thủy lực. Đó là mạch nước làm sạch. Máy khoan đá sử dụng nước có áp suất 4–8 bar để làm mát mũi khoan và thổi phoi. Khi gioăng làm kín giữa mạch nước và mạch dầu bị suy giảm — thường xảy ra sau 300–500 giờ vận hành mà không được kiểm tra — nước ở áp suất 5–6 bar sẽ xâm nhập vào phía thủy lực đang chịu áp suất 160–180 bar trong các chu kỳ cân bằng áp suất. Quá trình nhũ hóa diễn ra rất nhanh: chỉ cần 0,2–0,4% nước là đủ để khiến dầu ISO VG 46 trở nên trắng đục rõ rệt.
Đường dẫn vào thứ cấp là phớt gạt thanh piston, đặc biệt trong các hoạt động khai thác dưới lòng đất sử dụng nước mỏ có tính axit với độ pH dưới 6,8. Nước axit tấn công hợp chất phớt gạt NBR nhanh hơn so với nước sạch, tạo ra các lỗ thủng vi mô trên mép phớt, cho phép sương nước mịn xâm nhập vào buồng búa trong quá trình khoan. Sương nước này sau đó bị nén áp suất vào màng dầu ở mỗi chu kỳ búa. Ở tần số 50 Hz, điều này tương đương với 180.000 sự kiện tiêm vi mô mỗi giờ. Quá trình nhũ hóa bắt đầu từ buồng búa lan dần ra ngoài, và đạt đến bình chứa chính trong vòng 60–90 phút vận hành liên tục.
Xác định nguồn nước và quy trình phục hồi mạch thủy lực
|
Điểm nước xâm nhập |
Chỉ báo chẩn đoán |
Kiểm tra xác nhận |
Hành động phục hồi |
|
Phớt làm kín nước xả (đối tượng nghi ngờ hàng đầu) |
Dầu đục như sữa xuất hiện sau khi kích hoạt hệ thống xả nước, chứ không xuất hiện trước đó |
Thử nghiệm áp suất riêng biệt đối với phớt làm kín nước xả — duy trì ở 8 bar trong 10 phút |
Thay thế cụm phớt làm kín nước xả; xả toàn bộ mạch thủy lực |
|
Phớt gạt thanh piston trên buồng búa |
Nhiễm bẩn dạng sữa chỉ giới hạn ở mạch gõ, không lan rộng toàn bộ bể |
Lấy mẫu riêng mạch gõ tách biệt với bể chính |
Thay phớt gạt; kiểm tra độ pH của nước mỏ bằng dung dịch axit |
|
Bộ trao đổi nhiệt đường hồi (hiếm gặp) |
Dầu bị nhũ hóa trong toàn bộ bể, bao gồm cả các mạch không thuộc mạch gõ |
Thử nghiệm áp suất ống làm mát ở mức 1,5 lần áp suất vận hành |
Thay lõi làm mát; xả toàn bộ bể và đổ đầy lại |
|
Ngưng tụ do tiếp xúc với khí quyển (khởi động khi lạnh) |
Lớp màng sữa mỏng biến mất sau 30–40 phút ở nhiệt độ vận hành |
Vận hành đến nhiệt độ làm việc; lấy mẫu lại tại nhiệt độ hồi là 78°C |
Lắp bộ hút ẩm thông hơi; thực hiện quy trình chạy không tải ở nhiệt độ ấm |
|
Nhiễm bẩn bộ thông hơi của bình thủy lực |
Lớp nhũ tương màu sữa tích tụ dần theo tuần, chứ không phải theo giờ |
Kiểm tra tình trạng bộ lọc thông hơi và gioăng làm kín vỏ bộ thông hơi |
Thay thế toàn bộ bộ thông hơi; kiểm tra gioăng nắp bình |
Không khởi động lại máy khoan khi dầu đã bị nhũ hóa rõ rệt — dầu bị nhiễm nước làm suy giảm 40–60% độ bền màng bôi trơn tại bề mặt lỗ khoan, nghĩa là mỗi chu kỳ đập đều vận hành trong điều kiện kim loại tiếp xúc trực tiếp với kim loại. Việc xả toàn bộ hệ thống, rửa sạch và đổ đầy lại là mức tối thiểu cần thực hiện để khôi phục. HOVOO cung cấp các bộ gioăng rửa và bộ gioăng gạt cho các nền tảng máy khoan xoay phổ biến, kèm dữ liệu về khả năng chịu pH phù hợp với thành phần nước mỏ thường gặp. Tham khảo thêm tại hovooseal.com.
EN
AR
CS
DA
NL
FI
FR
DE
EL
IT
JA
KO
NO
PL
PT
RO
RU
ES
SV
TL
IW
ID
LV
SR
SK
VI
HU
MT
TH
TR
FA
MS
GA
CY
IS
KA
UR
LA
TA
MY